Tạp chí Bảo tàng & Nhân học

Chia sẻ bài viết qua Email

Tạp chí Bảo tàng & Nhân học

Tạp chí Bảo tàng & Nhân học được thành lập theo giấy phép số 1793/GP-BTTTT, do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ký ngày 01/10/2012, ISSN: 0866-7616. Là cơ quan ngôn luận của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam trực tiếp quản lý, Tạp chí Bảo tàng & Nhân học đăng tải các thông tin, bài nghiên cứu và tư liệu về bảo tàng học và nhân học, nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa của các dân tộc. Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, những người hoạt động trong lĩnh vực bảo tàng, sinh viên cũng như bạn đọc quan tâm đến hoạt động bảo tàng ở Việt Nam và trên thế giới sẽ tìm thấy ở đây những thông tin khoa học đa dạng. Ngoài ra, Tạp chí còn giới thiệu hình ảnh, các hoạt động đặc thù cũng như thành tựu của nhiều bảo tàng trong và ngoài nước.

Địa chỉ tòa soạn

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Đường Nguyễn Văn Huyên, quận Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại: 084-4-3756-2193 (máy lẻ 218)

Fax: 084-4-3836-0351

Email: baotang&nhanhoc@vme.org.vn

Các số tạp chí

Số 3&4 (11&12) - 2015

Số 2 (10) - 2015

Số 1 (9) - 2015

 

TỔNG BIÊN TẬP

PGS. TS. Võ Quang Trọng

 

HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP

PGS. TS. Võ Quang Trọng (Chủ tịch)

TS. Lưu Hùng

PGS. TS. Nguyễn Văn Huy

TS. Lê Thị Minh Lý

PGS. TS. Nguyễn Duy Thiệu

GS. TS. Ngô Đức Thịnh

PGS. TS. Vương Xuân Tình

 

BIÊN TẬP

Phạm Thị Thủy Chung

Vũ Phương Nga

Lê Phương Thảo

THỂ THỨC BÀI GỬI ĐĂNG TẠP CHÍ BẢO TÀNG & NHÂN HỌC

 

1. Tạp chí Bảo tàng & Nhân học công bố các bài viết thuộc lĩnh vực bảo tàng và nhân học, trao đổi nghiệp vụ bảo tàng, giới thiệu hoạt động bảo tàng ở Việt Nam và trên thế giới, trao đổi phương pháp, lý luận và kết quả nghiên cứu nhân học. Bài gửi đăng tạp chí Bảo tàng & Nhân học là bài chưa được gửi đăng ở các sách, báo và tạp chí khác.

2. Bài gửi đăng soạn bằng tiếng Việt trên máy vi tính, font chữ Unicode (Times New Roman), không quá 8000 chữ, bao gồm cả chú thích và tài liệu tham khảo (theo công cụ Word Count).  Mỗi bài cần có tóm tắt nội dung bằng tiếng Việt (từ 200 – 300 chữ), khuyến khích gửi cả tóm tắt tiếng Anh.

3. Bài viết được trình bày theo thứ tự sau: tên bài, tác giả, tóm tắt, nội dung bài, tài liệu tham khảo. Nếu bài viết được chia thành các mục và tiểu mục, cần đánh số theo thứ tự: 1., 2.; 1.1., 1.2.; 1.1.1., 1.1.2.;… Tên mục và tiểu mục cần ngắn gọn, không có dấu chấm ở cuối dòng.

4. Tên riêng của người, địa phương, thuật ngữ tiếng nước ngoài để nguyên văn theo phiên âm quốc tế, không phiên âm sang tiếng Việt, trừ những tên đã được Việt hóa (như Ấn Độ, Tôn Trung Sơn…).

5. Đối với các đoạn trích dẫn trong bài: trích dẫn nguyên văn phải để trong dấu ngoặc kép, trích dẫn nội dung không phải để trong dấu ngoặc kép. Cả 2 loại này đều phải trích nguồn, để ở chữ thường, trong ngoặc đơn và ngay sau đoạn trích dẫn, không đưa thành chú thích ở cuối trang.

6. Các chú thích để ở cuối trang, đánh số theo thứ tự 1, 2, 3… liên tục từ đầu đến cuối bài viết.

7. Bài viết cần có mục Tài liệu tham khảo ở cuối bài. Các tài liệu phải được sắp xếp theo thứ tự a, b, c… căn cứ vào tên tác giả (nếu tác giả là người Việt Nam) và họ tác giả (nếu tác giả là người nước ngoài). Nếu một tác giả có nhiều hơn một tài liệu tham khảo thì tài liệu nào xuất bản gần nhất xếp lên trước. Quy cách cụ thể như sau:

- Nếu là sách, ví dụ:

Lưu Hùng (2006), Góp phần tìm hiểu Văn hoá Cơtu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

Trích dẫn trong bài: (Lưu Hùng 2006, 115), theo đó, 115 là số thứ tự của trang có đoạn trích dẫn.

- Nếu là bài đăng trên tạp chí, ví dụ:

Võ Quang Trọng ( 2010), “Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long – Hà Nội”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 5, tr. 60-73.

Trích dẫn trong bài: (Võ Quang Trọng 2010, 60), theo đó, 60 là số thứ tự của trang có đoạn trích dẫn.

- Nếu là bài đăng hoặc một chương trong một cuốn sách, ví dụ:

Nguyễn Duy Thiệu và  Ruddle K (2010), “Việt Nam: The vạn chài System of Social Organization and Fisheries Community Management”, Managing Coastal and Inland Waters: Pre-existing Aquatic Management Systems in Southeast Asia,K. Ruddle và A.Satria (biên tập), Dordrecht: Springer Publishing Company, 129-160. 

Trích dẫn trong bài: (Nguyễn Duy Thiệu và Ruddle K. 2010, 149), theo đó, 149 là số thứ tự của trang có đoạn trích dẫn.

- Nếu là bài đăng trong kỷ yếu hội thảo, ví dụ:

Nguyễn Văn Huy (2009), “Những tiếp cận nhân học đô thị trong trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”, Bảo tàng và nhân học đô thị, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội.

Trích dẫn trong bài: (Nguyễn Văn Huy 2009)

- Nếu là bài đăng trên Internet, ví dụ:

Laurel Kendall (2010), “On the Problem of Material Religion and Its Prospects for the Study of Korean Religion”, truy cập 20/3/2013.

http://muse.jhu.edu/login?auth=0&type=summary&url=/journals/journal_of_korean_religions/v001/1.1-2.kendall.html

Trích dẫn trong bài: (Laurel Kendall 2010)

8. Ảnh minh hoạ cần gửi file có đuôi .jpg, dung lượng tối thiểu 2MB qua email hoặc đĩa mềm kèm theo ghi chú cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn về nội dung và nguồn.

9. Cuối bài cần ghi rõ họ tên, chức danh khoa học, học vị, tên cơ quan và địa chỉ, điện thoại, fax, email để Toà soạn tiện liên hệ.

10. Toà soạn không trả lại bản thảo nếu bài không được đăng.


Mở của từ 8h30 tới 17h30 tất cả các ngày trừ thứ hai hàng tuần và Tết Nguyên Đán

Đường Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà Nội